Danh mục sản phẩm
Tin tức

Phòng tránh các bệnh xảy ra vào mùa hè phần 2

Lần trước chúng ta đã biết 1 số bệnh thường mắc phải vào mùa hè. Hôm nay chúng ta hãy cùng JERRY tìm hiểu thêm một số bệnh còn lại nhé: 

4. TAY – CHÂN – MIỆNG​

  Bệnh tay, chân và miệng (TCM) là một  bệnh ở người do virus đường ruột gây ra ( Picornaviridae ).

   Đây là một bệnh thường gặp ở trẻ em.

  Bệnh thường được đặc trưng bởi sốt, đau họng và nổi ban có bọng nước.

    Đầu tiên thường là sốt nhẹ, biếng ăn, mệt mỏi và đau họng.         Một đến hai ngày sau khi xuất hiện sốt trẻ bắt đầu đau miệng. Khám họng trẻ có thể phát hiện các chấm đỏ nhỏ sau đó biến thành các bọng nước và thường tiến triển đến loét. Các tổn thương này có thể thấy ở lưỡi, nướu và bên trong má. 

Ban da xuất hiện trong vòng 1 đến 2 ngày với các tổn thương phẳng trên da hoặc có thể gồ lên, máu đỏ và một số hình thành bọng nước. Ban này không ngứa và thường khu trú ở lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân.

Như vậy ban điển hình thường xuất hiện ở các vị trí tay, chân và miệng nên bệnh có tên Bệnh Tay – Chân – Miệng. Tuy nhiên ban có thể xuất hiện ở mông.

 


Các triệu chứng của bệnh TCM bao gồm:

Sốt

Nhức đầu

Ói mửa

Mệt mỏi

Khó chịu

Đau lan lỗ tai

Đau họng

Thương tổn đau rát ở răng và miệng

Phát ban không ngứa toàn thân, kèm theo đó là nhiều nốt mụn trên lòng bàn tay và lòng bàn chân

Loét miệng

Mụn lở và giộp da trên xuất hiện trên mông của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi trở nên khó chịu

Biếng ăn

Tiêu chảy

Thời kỳ ủ bệnh thường  là 3-7 ngày.

Triệu chứng ban đầu có thể là sốt thường kèm theo một cơn đau họng, chán ăn, mệt mỏi.

Thời kỳ toàn phát:  1-2 ngày sau khi bị sốt, các nốt mụn lở đau rát (tổn thương) có thể xuất hiện trong miệng hoặc cổ họng. Chứng phát ban có thể nhìn thấy rõ ràng trên bàn tay, bàn chân, miệng, lưỡi, bên trong má, và đôi khi cũng gặp ở mông(rất ít).
Nguyên nhân gây bệnh
Bệnh Tay – Chân – Miệng do một nhóm virus gây nên (nhóm Enterovirus)

Dịch tễ học ( Đường lây )

Đây là một bệnh dễ lây lan. Đường lây truyền thường từ người sang người do tiếp xúc với các dịch tiết mũi họng, nước bọt, chất dịch từ các bọng nước hoặc phân của người bệnh.
Giai đoạn lây lan mạnh nhất là tuần đầu tiên bị bệnh. Bệnh Tay – Chân – Miệng không phải là bệnh lây từ động vật sang người.
Thời kỳ ủ bệnh thường từ 3 đến 7 ngày. Sốt thường là triệu chứng đầu tiên của bệnh. Đầu tiên virus thường cư trú ở niêm mạc má và sau 24 giờ, virus lan đến các hạch bạch huyết vùng. Nhiễm virus huyết thường xảy ra nhanh chóng sau đó và virus di chuyển đến niêm mạc miệng và da. Vào ngày thứ 7 sau khi nhiễm bệnh, kháng thể trung hòa tăng cao và virus bị thải loại.
Bệnh Tay – Chân – Miệng xảy ra chủ yếu ở trẻ em dưới 10 tuổi tuy nhiên cũng có thể gặp ở cả người trưởng thành. Mọi người đều có thể nhiễm virus nhưng không phải tất cả những người nhiễm virus đều biểu hiện bệnh.
Trẻ nhũ nhi, trẻ em và thiếu niên là những đối tượng dễ bị nhiễm bệnh và biểu hiện bệnh nhất vì chúng chưa có kháng thể chống lại bệnh này. Nhiễm bệnh có thể tạo nên kháng thể đặc hiệu chống virus gây bệnh tuy nhiên bệnh vẫn có thể tái diễn do một chủng virus khác gây nên.
Bởi vì mức độ lưu hành của các virus ruột, bao gồm cả các tác nhân gây Bệnh Tay – Chân – Miệng, nên phụ nữ có thai thường hay nhiễm bệnh. Nhiễm virus ruột trong thai kỳ thường gây nên bệnh nhẹ nhàng hoặc không triệu chứng. Không có dữ kiện nào chứng tỏ nhiễm virus trong quá trình mang thai gây nên các hậu quả xấu lên thai như sẩy thai , thai chết lưu hay dị tật bẩm sinh. Tuy nhiên nếu thai phụ nhiễm bệnh trong một thời gian ngắn trước khi sinh thì có thể truyền virus cho trẻ sơ sinh. Đa số những trẻ này chỉ biểu hiện bệnh nhẹ nhàng nhưng một số có thể biểu hiện bệnh cực kỳ trầm trọng đưa đến rối loạn chức năng đa cơ quan và tử vong. Nếu bệnh xuất hiện trong hai tuần đầu sau sinh thì nguy cơ xảy ra bệnh nặng cao hơn.

Cách phòng bệnh 
Hiện nay chưa có phương pháp phòng bệnh đặc hiệu cho Bệnh Tay – Chân – Miệng tuy nhiên biện pháp vệ sinh chặt chẽ có thể hạ thấp nguy cơ nhiễm bệnh. Các biện pháp có tác dụng là thường xuyên rửa tay đặc biệt là sau mỗi lần thay tã.
Những nơi bị nhiễm bệnh có thể được làm sạch trước tiên bằng nước xà phòng sau đó khử trùng bằng dung dịch chứa chlor. Tránh các tiếp xúc thân mật với người bệnh như hôn, vuốt ve, dùng chung dụng cụ…
Các vụ bùng phát dịch trong nhà trẻ thường xảy ra vào mùa hè và mùa thu và thường đồng thời với hiện tượng tăng các trường hợp nhiễm bệnh trong cộng đồng. Không có biện pháp cụ thể nào đảm bảo chắc chắn giảm thiểu các trường hợp mới mắc nếu dịch bùng phát trong nhà trẻ, trường học, tuy nhiên những biện pháp sau đây thường được khuyến cáo:

Rửa tay sạch sẽ, nhất là sau khi đi vệ sinh, thay tã hoặc don dẹp các vật dụng có phân trẻ.

Che miệng khi ho và hắt hơi. Rất khó thực hiện ở trẻ em.

Vệ sinh đồ chơi.

Cho nghỉ tại nhà những trẻ biểu hiện sốt và/hoặc có biểu hiện loét miệng hoặc trẻ nhễu nước bọt nhiều.

THỦY ĐẬU

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh thủy đậu là một bệnh truyền nhiễm, do virus gây ra (Varicella Zoster ) và thường bùng phát thành dịch vào mùa xuân – hè.

Virus gây bệnh thủy đậu lây chủ yếu qua đường hô hấp (hoặc không khí), người lành dễ bị nhiễm bệnh nếu hít phải những giọt nước bọt bắn ra khi bệnh nhân thủy đậu ho, hắt hơi hoặc nhảy mũi.

Ngoài ra, khi tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu, bệnh có thể lây từ bóng nước khi bị vỡ ra, lây từ vùng da bị tổn thương hoặc lở loét từ người mắc bệnh. Đặc biệt, phụ nữ mang thai không may bị nhiễm bệnh sẽ rất dễ lây cho thai nhi thông qua nhau thai.

 

Click and drag to move
Các nốt bóng nước ở bệnh thủy đậu

Triệu chứng bệnh thủy đậu

Khi khởi phát, người bệnh có thể có biểu hiện sốt, đau đầu, đau cơ, một số trường hợp nhất là trẻ em có thể không có triệu chứng báo trước.

Khi bị thủy đậu, cơ thể người bệnh sẽ xuất hiện những “nốt rạ”. Đây là những nốt tròn nhỏ xuất hiện nhanh trong vòng 12 – 24 giờ, các nốt này sẽ tiến triển thành những mụn nước, bóng nước. Nốt rạ có thể mọc khắp toàn thân hay mọc rải rác trên cơ thể, số lượng trung bình khoảng 100 – 500 nốt. Trong trường hợp bình thường những mụn nước này khô đi, trở thành vảy và tự khỏi hoàn toàn trong 4 – 5 ngày.

Ở trẻ em, thủy đậu thường kéo dài khoảng 5 – 10 ngày dẫn đến việc phải nghỉ học hoặc nghỉ đến nơi giữ trẻ.

Biến chứng của bệnh thủy đậu

Thông thường, thủy đậu là bệnh lành tính. Nhưng bệnh cũng có thể gây biến chứng nguy hiểm như: viêm màng não, xuất huyết, nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng nốt rạ, viêm mô tế bào, viêm gan… Một số trường hợp có thể gây tử vong nếu người bệnh không được điều trị kịp thời.
Viêm phổi do thủy đậu, ít khi xảy ra hơn, nhưng rất nặng và rất khó trị.
Viêm não do thủy đậu cũng xảy ra, không hiếm: sau thủy đậu trẻ bỗng trở nên vật vã, kích thích, nhiều khi kèm theo co giật, hôn mê. Những trường hợp này có thể mang di chứng thần kinh lâu dài: bị điếc, chậm phát triển, động kinh v.v…

Người mẹ mắc bệnh thủy đậu khi đang mang thai có thể sinh con bị dị tật bẩm sinh sau này.

Chăm sóc người bệnh bị thủy đậu

Vì là bệnh lây qua đường hô hấp và tiếp xúc trực tiếp với dịch nốt phỏng nên khi trẻ bị thủy đậu:

Cách ly trẻ tại nhà cho tới khi khỏi hẳn.

Bổ sung thêm vitamin C, nhỏ mũi 2 lần/ngày cho trẻ.

Mặc quần áo vải mềm, thấm hút mồ hôi và đặc biệt chú ý tới việc đảm bảo vệ sinh da cho trẻ để tránh xảy ra biến chứng.

Giữ bàn tay cho trẻ thật sạch.

Khi cần tiếp xúc người bệnh thủy đậu thì phải đeo khẩu trang. Sau khi tiếp xúc phải rửa tay ngay bằng xà phòng. Đặc biệt những phụ nữ đang mang thai cần tuyệt đối tránh tiếp xúc với người bệnh.

Lưu ý: Tránh làm vỡ các nốt thuỷ đậu vì dễ gây bội nhiễm và có thể tạo thành sẹo tồn tại lâu dài.

Nằm trong phòng riêng, thoáng khí, có ánh sáng mặt trời, thời gian cách ly là khoảng 7 đến 10 ngày từ lúc bắt đầu phát hiện bệnh (phát ban) cho đến khi các nốt phỏng nước khô vảy hoàn toàn.

Sử dụng các vật dụng sinh hoạt cá nhân riêng: khăn mặt, cốc, chén, bát, đũa.

Vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý 0,9%.

Thay quần áo và tắm rửa hàng ngày bằng nước ấm sạch.

Nên mặc quần áo rộng, nhẹ, mỏng.

Đối với trẻ em:

– Nên cắt móng tay cho trẻ, giữ móng tay trẻ sạch hoặc có thể dùng bao tay vải để bọc tay trẻ nhằm tránh biến chứng nhiễm trùng da thứ phát do trẻ gãi gây trầy xước các nốt phỏng nước.

– Ăn các thức ăn mềm, lỏng, dễ tiêu, uống nhiều nước, nhất là nước hoa quả.

– Dùng dung dịch xanh Milian (xanh Methylene) để chấm lên các nốt phỏng nước đã vỡ.

– Trường hợp sốt cao, có thể dùng các thuốc hạ sốt giảm đau thông thường nhưng phải theo hướng dẫn của thầy thuốc, có thể dùng kháng sinh trong trường hợp nốt rạ bị nhiễm trùng: nốt rạ có mủ, tấy đỏ vùng da xung quanh.

Nếu bệnh nhân cảm thấy: Khó chịu, lừ đừ, mệt mỏi, co giật, hôn mê hoặc có xuất huyết trên nốt rạ nên đưa đến ngay các cơ sở y tế để được theo dõi và điều trị.

 

Click and drag to move
Trẻ em và người lớn nên chủng ngừa bệnh thủy đậu càng sớm càng tốt.

Phòng bệnh thủy đậu:

Mặc dù bệnh có thể lây lan nhanh chóng trong cộng đồng, nhưng hiện tại đã có biện pháp chủ động để phòng ngừa bệnh thủy đậu, đó là chủng ngừa bằng vắc-xin.

Đối với trẻ từ 12 tháng tuổi tới 12 tuổi, tiêm 1 liều và liều thứ 2 nên tiêm thêm cách liều thứ nhất 6 tuần trở đi hoặc trong khoảng 4 – 6 tuổi để gia tăng hiệu quả phòng bệnh và giảm việc mắc bệnh thuỷ đậu trở lại mặc dù trước đó đã tiêm phòng.

Đối với trẻ trên 13 tuổi, thanh niên và người lớn, tiêm 2 liều cách nhau tốt nhất là sau 6 tuần.
 

NHIỄM TRÙNG DA

Da là cơ quan ngoài cùng cơ thể. Đây là một cơ quan có mặt trên hầu khắp cơ thể, từ đầu cho tới chân. Có thể nói rằng đây là hệ thống phòng thủ mạnh nhất và hữu hiệu nhất của cơ thể.

 

Click and drag to move
Khi hệ thống này bị tấn công và tổn thương cũng đồng nghĩa với sức khỏe của ta có vấn đề.

Các bệnh nhiễm khuẩn da thường gặp

Các bệnh nhiễm khuẩn da thường gặp trong mùa hè là nhiễm trùng da do tụ cầu khuẩn, liên cầu khuẩn và do nấm da.

Tụ cầu khuẩn gây viêm nang lông.

Bệnh này có đặc điểm xuất hiện những mụn nhỏ lấm tấm, ngay tại vị trí chân lông. Các mụn này có đặc điểm là ban đầu chỉ là một nốt nhỏ sau đó to hơn, tụ mủ ở chính giữa. Sợi lông mọc xiên từ dưới lên chính giữa nốt mụn như thể mụn mủ bao quanh gốc lông. Nốt mụn khá ngứa và ấn thì hơi đau. Tùy thuộc vào nhiễm khuẩn da nông (tức là ở ngay gần bề mặt cơ thể) hay sâu (tận sâu dưới da) mà nốt mụn to hay nhỏ, lâu khỏi hay nhanh khỏi. Nhưng thông thường nếu không có biến chứng gì thì không có hiện tượng rụng lông xảy ra. Bệnh thường gặp ở mặt, da đầu, cẳng chân, cẳng tay, đùi, vùng sinh dục. Khi mọc ở vùng râu cằm thì được gọi là đinh râu.

Liên cầu khuẩn gây ra các bệnh chốc loét, chốc lây trên da.

Vào mùa hè, da ẩm ướt những bệnh này càng có cơ hội phát triển. Nó thường xuất hiện ở những vùng da mất vệ sinh, những cơ thể yếu, có sức đề kháng kém, trẻ em, người bị đái tháo đường… Bệnh thường biểu hiện bằng những phỏng nước nhỏ sau đó hoá mủ. Những dịch của những nốt này có thể lan ra vùng xung quanh và gây ra chốc liên tiếp. Tùy thuộc vào mức độ tổn thương mà đó là bệnh chốc lây (nếu là tổn thương nông, hay chốc loét nếu là tổn thương sâu). Những tổn thương sâu thì thường để lại sẹo. 
Với trẻ em, vào mùa hè, tại những ngấn sâu, nếp gấp sâu hoặc những người béo phì, da vùng này rất ẩm ướt sẽ có hiện tượng viêm da tại vùng nếp gấp được gọi là hăm kẽ. Biểu hiện của bệnh là da đỏ, rát, quầng lên tại những nếp gấp sâu. Hăm kẽ có một đặc điểm là không xuất hiện lây lan trên vị trí cơ thể khác. Do đó các bậc cha mẹ nên chú ý khi chăm sóc da trẻ sơ sinh mùa hè.
Mùa hè còn là mùa thuận lợi cho bệnh nấm da phát triển, tên thường gọi khác là hắc lào.
Nấm hắc lào chính là những dòng nấm ưa nóng ẩm, rất dễ sinh trưởng ở môi trường ướt át như bẹn, mông, nách, ngấn bụng… Do đó bệnh chỉ xuất hiện ở những vùng này trước khi lan sang vùng da khác. Đặc điểm dễ nhận thấy nhất của bệnh đó: dạng tổn thương kiểu khép kín như hình tròn, hình tứ giác, ngũ giác, đa giác và chỉ có tổn thương ở chu vi mà da vùng chính giữa lại hoàn toàn bình thường. Tổn thương là các mụn nước nhỏ li ti, vô cùng ngứa. Sau khi gãi thấy rất xót và lan càng mạnh. Đám hắc lào cứ thế lan ra theo nhiều cách, rộng ra hoặc lan sang vùng da bên cạnh, hình thành nên một đám hắc lào mới.

Nguy cơ không chỉ ở ngoài da

Nhiễm khuẩn huyết: Nguy cơ này ít nhưng thường trực nếu như các tổn thương ngoài da là rộng và dày đặc. Thường xuất hiện ở những vùng nhiều mạch máu như mép, miệng, mặt, cằm. Khi những nốt nhiễm khuẩn xuất hiện dưới dạng một “đinh râu” thì sẽ xuất hiện một hàng rào bảo vệ sinh học là các tế bào miễn dịch bao xung quanh và các dịch ngoại bào đầy kháng thể. Nếu nặn hút quá sớm, ngay từ khi quá trình viêm mới bắt đầu và cấp diễn, các hoạt động miễn dịch đang được huy động thì chúng ta dễ dàng phá vỡ hàng rào sinh học này. Vi khuẩn lợi dụng “vết nứt” trên, xâm nhập ồ ạt vào máu mà cơ thể không thể ngăn trở kịp gây ra nhiễm khuẩn huyết. Nhiễm khuẩn huyết là một biến cố nặng, nó có thể biến một nhiễm khuẩn ngoài da thành một nhiễm khuẩn thứ phát ở gan, tim, não và có thể gây tử vong, đặc biệt ở người già và trẻ em.
Nhiễm khuẩn các cơ quan khác: Da có thể khởi động tạo ra các viêm nhiễm ở màng tim, màng khớp, có thể gây ra viêm xương tủy xương. Việc gây ra những căn bệnh này là do vi khuẩn hoặc phức hợp kháng thể – kháng nguyên của vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể theo đường máu hoặc bạch huyết gây ra viêm tại các cơ quan có mô liên kết giống nhau như màng tim, màng khớp. Ở những đối tượng mà sức miễn dịch kém thì các vi khuẩn có thể theo đường máu tới định cư ở đầu các xương dài và gây ra bệnh viêm xương tủy xương. Các dạng tổn thương này càng hay gặp khi một nhiễm khuẩn da dai dẳng, ăn sâu và có thể lan tới cốt mạc xương.
Có thể là một nguyên cớ cho các bệnh liên quan đến miễn dịch như bệnh eczema hay bệnh lupus ban đỏ.

Xử trí thế nào? 

Đứng trước một nhiễm khuẩn da, hai việc cần quan tâm ở đây là ngăn không cho nhiễm khuẩn lan rộng và “ăn” sâu. Để thực hiện hiệu quả cần thực hiện theo các biện pháp dưới đây.
Một là, không được cào cấu, gãi, nặn, chích hay bất kỳ một can thiệp cơ học nào vào vị trí tổn thương quá sớm. Việc cần làm đầu tiên đó là rửa nhẹ nhàng và vệ sinh sạch sẽ. Sau đó lau khô và bôi thuốc sát khuẩn lên bề mặt tổn thương như xanh metylen, hay cồn iốt hữu cơ. 
Hai là, việc sử dụng thuốc kháng sinh cần được chỉ định chặt chẽ của bác sĩ. 
Chú ý: Các thuốc bôi trên vết nhiễm khuẩn. Khi một vết thương đang sưng, đỏ, rắn thì chỉ được bôi các thuốc dạng nước như dung dịch cồn iốt. Khi các vết thương nhiễm khuẩn lâu liền đang chảy nước cũng chỉ được thấm dung dịch sát khuẩn lên bông gạc và che đậy vào tổn thương mà tuyệt đối không được bôi thuốc mỡ. Chỉ được bôi thuốc dạng kem và mỡ khi tổn thương đã khô và đóng vảy; khi tổn thương nhiễm trùng trên da dai dẳng hàng tuần hàng tháng mà không liền thì nhất thiết phải đi khám và được điều trị. 

 

<

nhận tin

Đăng ký nhận bản tin